Lịch sử rượu vang Mỹ

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +

Lịch sử rượu vang của người Mỹ bắt đầu khi những người Châu Âu đầu tiên khám phá những vùng ở Bắc Mỹ, nơi họ gọi là Vinland vì có một số giống nho bản địa được trồng ở đó. Tuy nhiên, những người định cư sau đó đã phát hiện ra rằng rượu vang làm từ những loại nho bản địa có hương vị không được tốt cho lắm. Vì vậy họ đã cố gắng phát triển giống nho phổ biến, và công việc này bắt đầu từ những năm 1629 tại  Senecu , gần thị trấn San Antonio, New Mexico hiện nay.

Tuy nhiên, năm 1802 họ khám phá ra Catawba, đã dẫn tới việc tạo ra rượu vang rất thành công ở Ohio. Vào năm 1842, Nicholas Longworth đã trồng 1,200 acre (4,9 km2) nho Catawba và tạo ra loại rượu Sparkling đầu tiên của nước này. Vào năm 1858, tờ The Illustrated London News miêu tả Catawba là “một loại rượu ngon hơn các loại Sparkling nào khác và có thể vượt qua cả Champagne của Pháp”. Rượu vang ở Ohio đã chấm dứt khi bệnh nấm phá huỷ các vườn nho. Một số nông dân đã khắc phục bằng cách di chuyển về phía bắc đến bờ Hồ Erie và các hòn đảo của nó, nơi mà nấm mốc không phát triển nhiều. Vùng Finger Lakes của Bang New York đã phát triển một ngành công nghiệp sản xuất rượu thành công bắt đầu vào đầu những năm 1860. Năm 1865, Công ty Rượu Urbana được thành lập. Năm 1872, Vườn nho O-Neh-Da được thành lập bởi cố giám mục Bernard McQuaid, trên bờ hồ Hemlock, để làm rượu nho nguyên chất cho các nhà thờ của ông. Năm 1880 chứng kiến ​​sự ra đời của Công ty Rượu Taylor. Vào cuối thế kỷ 19, rượu vang từ Hồ Finger đã giành giải thưởng tại các quán rượu vang ở Châu Âu.

California wine

Tại California, vườn nho và nhà máy rượu đầu tiên được các nhà truyền giáo Thiên chúa giáo Tây Ban Nha thành lập vào năm 1769. California có hai giống nho bản địa, nhưng chúng cho ra rượu vang chất lượng rất kém. Do đó, các nhà truyền giáo sử dụng nho Mission, được gọi là Criolla hay “colonialized European”ở Nam Mỹ. Mặc dù một loại Vitis vinifera, nó là một loại nho có chất lượng rất bình thường. Vườn nho đầu tiên được thành lập ở Los Angeles bởi một người nhập cư từ Bordeaux, Jean-Louis Vignes. Không hài lòng với nho Mission, anh ta nhập nho từ Pháp. Đến năm 1851, ông đã có 40.000 cây nho trồng và sản xuất 1.000 thùng dầu mỗi năm (120.000 lít rượu vang).

Sản xuất rượu chính đã chuyển sang Thung lũng Sonoma ở miền bắc California chủ yếu do khí hậu tuyệt vời của nó đối với việc trồng nho. Tướng Mariano Vallejo, cựu chỉ huy của tổng thống Sonoma, đã trở thành nhà trồng nho quy mô lớn đầu tiên ở thung lũng. Năm 1857, Agoston Haraszthy mua 520 mẫu Anh (2,1 km2) gần vườn nho Vallejo. Trái ngược với Vallejo và hầu hết những người khác, Haraszthy trồng cây nho của mình trên những sườn núi khô và không tưới nước cho chúng. Ngày nay, giá trị của canh tác khô để tạo ra rượu vang thượng hạng thường được công nhận.

Haraszthy được gọi là “Cha đẻ của nghề trồng nho hiện đại ở California.” Ông đã viết Báo cáo về nho và rượu vang ở California, một quyển sách hướng dẫn về quản lý vườn nho và quy trình sản xuất rượu, trong đó ông thúc giục thử nghiệm với các giống nho khác nhau ở các vùng đất khác nhau. Ông cũng kêu gọi chính phủ nhập giống từ châu Âu và phân phối cho người trồng ở California. Năm 1861, Cơ quan Lập pháp Tiểu bang đã ủy quyền cho Haraszthy đi du lịch đến Châu Âu và mua một loạt các hạt nho. Ông đã làm như vậy, và thu được 100,000 cây nho với 300 giống khác nhau.

Rượu vang làm từ một nhãn hiệu thứ hai của Công ty Rượu vang Pleasant Valley ở New York, đây là nhà máy rượu vang đầu tiên ở Hoa Kỳ.

Năm 1852, Charles LeFranc thành lập nên một vườn nho Almaden rất thành công, nơi ông trồng Cabernet Sauvignon, Pinot noir, Semillon, và nhiều giống khác.  Năm 1854, John Patchett trồng vườn nho thương mại đầu tiên ở thung lũng Napa và thành lập nhà máy rượu đầu tiên ở đó vào năm 1858. Năm 1861, Charles Krug, người trước đây làm việc cho Agoston Haraszthy và Patchett, đã thành lập nhà máy rượu danh giá ở St. Helena và bắt đầu sản xuất rượu của mình. Khu đất mà Krug thành lập nhà máy rượu vang là một phần của của hồi môn của vợ ông (Carolina Bale). Krug đã trở thành một nhà lãnh đạo quan trọng của sản xuất rượu vang ở thung lũng Napa. Ông cũng là người cố vấn cho Karl Wente, Charles Wetmore và Jacob Beringer, tất cả đều trở thành những người sản xuất rượu vang nổi tiếng.

Ngay từ đầu, thung lũng Napa đã chứng tỏ được vị trí dẫn đầu trong việc sản xuất rượu vang chất lượng. Tại Triển lãm Universelle ở Paris vào năm 1889, rượu vang Napa Valley đã giành được 20 trong số 34 huy chương hoặc giải thưởng (bao gồm bốn huy chương vàng) giành được bởi các mục của California. Đây là điểm cao mà sau đó là 40 năm thiên tai và thảm họa do con người gây ra. Sương mù nghiêm trọng, sự bùng nổ của lọ mồi phylloxera đã phá huỷ Vitis vinifera vines, trầm cảm kinh tế, trận động đất tại San Francisco đã hủy hoại khoảng 30.000.000 gallon Mỹ (110.000.000 lít) rượu trong kho, và thiên tai của Quốc gia cấm từ năm 1920 đến năm 1933.

Share.

Leave A Reply